|
Hầu hết các trường đều có kỳ nghỉ hè khoảng 2 tháng từ giữa/ cuối tháng 6 đến giữa/ cuối tháng 8. Giáo viên tiểu học thường hướng dẫn từ hai mươi đến ba mươi học sinh. Trung học bao gồm lớp 6,7,8,9 hoặc có thể bao gồm đến hết lớp 12.
Trung học cấp II và cấp III
Trường trung học cấp II dạy từ lớp sáu đến lớp tám hoặc từ lớp bảy đến lớp chín. Thông thường, bảng điểm chính thức của sinh được tính từ năm lớp chín.
Trường trung học cấp III dạy từ lớp 9 đến lớp 12 hoặc từ lớp 10 đến lớp 12. Nói chung, học sinh cấp III học khá nhiều môn chứ không tập trung vào một môn cụ thể. Điểm để qua các môn có thể từ 60 đến 75 (theo thang điểm 100).
Các môn học bắt buộc ở hầu hết các trường trung học Mỹ:
- Khoa học (tối thiểu 2 năm, thường là môn Sinh, Hoá và Lý)
- Toán học (tối thiểu 2 năm, thường bao gồm Đại số, Hình học, Thống kê và các phép tính)
- Tiếng Anh (ít nhất 4 năm, học các môn văn học, ngôn ngữ, nhân văn v.v…)
- Khoa học xã hội (ít nhất 3 năm, học các môn lịch sử, chính trị, kinh tế)
- Giáo dục thể chất (ít nhất 1 năm)
Bảng điểm điển hình
|
Ví dụ về bảng điểm:
|
|
A
|
B
|
C
|
D
|
F, E, I, N, or U
|
|
+
|
|
–
|
+
|
|
–
|
+
|
|
–
|
+
|
|
–
|
|
|
100–97
|
96–93
|
92–90
|
89–87
|
86–83
|
82–80
|
79–77
|
76–73
|
72–70
|
69–67
|
66–63
|
62–60
|
Below 60 Percent
|
Những khóa học nâng cao
Nhiều trường trung học dạy chương trình Advanced Placement (AP) hoặc International Baccalaureate (IB). Đây là chương trình đào tạo nâng cao, khó hơn chương trình tiêu chuẩn, thường dành cho học sinh năng khiếu. Học sinh ở những trường này có nhiều cơ hội để vào các trường đại học tốt. Chương trnfh AP hoặc IB thường được dạy từ lớp 11 hoặc lớp 12. Ở một số trường có thể bắt đầu sớm hơn từ 9.
Những bài kiểm tra tiêu chuẩn cho đầu vào đại học
Các bài kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức tổng thể và năng khiếu của học sinh. SAT và ACT là 2 bài thi phổ biến nhất mà học sinh thường thi để nộp đơn vào đại học. Một học sinh có thể thi 1 hoặc cả 2 kì thi này, tùy thuộc vào trường đại học mà học sinh muốn ghi danh. Hầu hết những trường đại học nổi tiếng thi 2 đến 3 môn SAT, tập trung vào một lĩnh vực cụ thể.
Trường công lập và tư thục
Học sinh Việt Nam thường học ở trường tư nơi họ có thể tìm kiếm con đường để vào một trường đại học tốt. Ưu điểm của trường tư là lớp học nhỏ hơn (dưới 20 học sinh), tỉ lệ tiếp cận giáo viên cao, sự quan tâm cá nhân cao hơn và thường có sự hỗ trợ chuyên nghiệp cho việc đăng ký đầu vào đại học.
Có 5,072,451 học sinh tham dự 33,740 tiểu học và trung học tư năm 2007. 74.5% là da trắng, không phải gốc Tây Ban Nha, 9.8% là châu phi, 9.6 % là Tây Ban Nha. 5.4% là Châu Á hoặc Thái Bình Dương và 6% là Ấn Độ.
Cao đẳng và Đại học
Ở Mỹ có 4,352 trường đại học và cao đẳng. Học sinh thường học chương trình đại học 4 năm để lấy bằng cử nhân theo một ngành nào đó (một số đăng ký học theo chuyên ngành). Bên cạnh đó, một số đi theo con đường học tại trường cao đẳng cộng đồng trong 2 năm trước khi học tiếp lên đại học vì yêu cầu đầu vào dễ hơn và chi phí rẻ hơn. Đối với chương trình sau đại học, thường là sau vài năm làm việc, sinh viên có thể học để lấy bằng thạc sỹ. Sau thời gian học thêm vài năm, người học có thể lấy bằng Tiến sỹ.
Các loại trường
Trường cao đẳng 2 (không nhất thiết phải là trường cộng đồng) sẽ cấp bằng cao đẳng. Cao đẳng cộng đồng thường có yêu cầu tuyển sinh mở cho phép học sinh chỉ cần bằng tốt nghiệp trung học để vào với yêu cầu thấp và học phí rẻ hơn so với các trường tư hoặc công lập. Sau khi hoàn tất cao đẳng cộng đồng, học sinh có thể học chuyển tiếp tại các trường đại học để hoàn tất 2 năm cuối lấy bằng cử nhân.
Trường cao đẳng 4 năm (thường có số lượng học sinh nhiều hơn và cung cấp đa dạng các ngành học hơn trường cao đẳng 2 năm) dạy hầu hết các chương trình cử nhân và một số trường có thể đào tạo chương trình thạc sỹ. Trường cao đẳng có lớp học nhỏ hơn và tỉ lệ giáo viên/ sinh viên cao hơn so với trường đại học. Hoạt động dạy và học mang tính tương tác nhiều hơn.
Trường đại học: hoạt động đào tạo theo định hướng nghiên cứu, cấp bằng cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ. Vì lý do lịch sử, một vài trường đại học như Boston College vẫn giữ tên gọi “college” (cao đẳng). Đồng thời, một vài trường khác chỉ dạy một vài chương trình đại học nhưng vẫn có tên gọi là trường đại học. Một số trường đại học có nhiều phân khoa hướng nghiệp đào tạo nghề, ví dụ đào tạo nghề báo chí.
Xếp hạng
55 trường đại học của Mỹ nằm trong bảng xếp hạng 200 trường đại học trên toàn thế giới theo bảng xếp hạng của THES – QS.
SƠ ĐỒ SO SÁNH HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM – HOA KỲ
|